Nhìn Lại Xuất Khẩu 2019: Ai Cũng Vui, Trừ Nông Dân

February 04 2020

Xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2019 là 1 thành quả rất ấn tượng, nhất là trong bối cảnh hàng loạt nước lớn có mức tăng trưởng xuất khẩu âm. Ai cũng vui với thành quả đó, nhưng trừ nông dân.

Nhìn lại xuất khẩu 2019, ai cũng vui trừ nông dân

Tôm chưa khắc phục được dư lượng thuốc kháng sinh, nên các nhà máy chế biến phải dùng tới 40% nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Điểm mờ trong bức tranh xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2019 đạt 263,4 tỉ đô la Mỹ, tăng 8,1% so với năm 2018 và xuất siêu 9,9 tỉ đô la, là năm thứ tư liên tiếp xuất siêu. Đây là thành công ngoài dự kiến, tuy nhiên “hương vị” thành công đó không đến với mọi ngành.

Trái ngược với bức tranh chung rất sáng sủa, xuất khẩu của ngành nông nghiệp Việt Nam trong năm qua lại khá ảm đạm với tổng kim ngạch xuất khẩu giảm 4,5% so với năm trước đó. Đây là bước thụt lùi đầu tiên sau chuỗi năm tăng trưởng liên tục; và không chỉ một vài mặt hàng mà có tới 7/9 mặt hàng của nhóm này giảm. Xuất khẩu nông phẩm thụt lùi trong khi ngành nông nghiệp được cho là đã có bước tiến dài, với một số lĩnh vực, vùng miền nổi trội.

Từ giảm… đến giảm

Thủy sản xuất khẩu được gần 8,6 tỉ đô la, giảm 2,4% so với năm 2018. Một trong những trắc trở là chưa thoát khỏi vòng kim cô “Thẻ vàng IUU”. Việc này phát sinh từ tháng 10-2017, bị gia hạn đến tháng 4-2018, rồi lùi tới tháng 1-2019, song đến tháng 11-2019 đoàn của Ủy ban châu Âu (EC) sang kiểm tra, yêu cầu ta tiếp tục khắc phục, nghĩa là thẻ vàng còn ít nhất tới tháng 6-2020.

Trong thời gian bị dính thẻ vàng, 100% hàng thủy sản xuất khẩu có nguy cơ bị giữ lại để kiểm tra nguồn gốc khai thác, thời gian sẽ kéo dài 3-4 tuần/container, phí kiểm tra khoảng 500 bảng Anh/container, chưa kể phí lưu kho và các hệ lụy khác, thậm chí như Philippines có khi tới 70% lô hàng bị từ chối thông quan.

Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu cá tra giảm 10% so với năm 2018. Tôm chưa khắc phục được dư lượng thuốc kháng sinh, nên các nhà máy chế biến phải dùng tới 40% nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Năm 2017, xuất khẩu rau quả đặt mục tiêu 4 tỉ đô la cho năm 2018, song chỉ đạt 3,8 tỉ đô la. Năm 2019 mục tiêu 4 tỉ đô la càng xa hơn với kim ngạch xuất khẩu thực tế chỉ đạt 3,764 tỉ đô la, giảm 1,1% so với năm 2018.

Con số 1,1% có vẻ không nhiều, nhưng hệ lụy của nó thì không nhỏ chút nào, nhất là đối với người nông dân. Năm 2019, xuất khẩu rau quả không chỉ giảm ở những trái cây chủ lực mà cả những loại gia vị như ớt, mộc nhĩ, nấm hương cũng vật vờ. Mặt hàng đưa ra từ phía Nam như thanh long, dưa hấu phải chịu cảnh phơi nắng chờ qua cửa khẩu; dứa ở Lào Cai, lâu nay thương lái bên Trung Quốc sang mua tại ruộng, năm 2019 bị siết chặt tiểu ngạch, lập tức ế ẩm.

Trong khi xuất khẩu rau quả khó đủ điều thì nhập khẩu rau quả lại “được mùa”. Năm 2019 nhập khẩu 1,7 tỉ đô la, tương ứng với 45% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Nhưng đáng ngại hơn là rau quả ngoại vào nước ta như “vào chỗ không người”, và không chỉ các loại trái cây từ châu Âu, Mỹ, Úc mà còn “la liệt” thứ ta sẵn có như sầu riêng, chôm chôm, cam, quýt, măng cụt… cũng được “rước về”.

Hạt điều tuy vẫn ở ngôi số 1 thế giới, song năm 2018 xuất khẩu nhân điều giảm 3,9% so với năm 2017. Năm 2019 tiếp tục giảm 2,2% nữa. Đó là sự khập khiễng giữa khả năng trồng trọt với năng lực chế biến của ngành điều. Lượng điều thô nội địa chỉ đảm bảo 30% năng lực chế biến, nên phải nhập khẩu rất nhiều, phần lớn từ châu Phi, trong đó riêng Bờ Biển Ngà chiếm 35% tổng lượng hạt điều thô nhập về Việt Nam. Tới đây họ sẽ giữ lại điều thô để chế biến, trong đó Bờ Biển Ngà định từ năm 2020 sẽ làm việc đó.

Đứng thứ 2 thế giới, song xuất khẩu cà phê của Việt Nam lại sụt mạnh, tới 21,2% so với năm 2018, đứng đầu về tỷ lệ giảm trong nhóm hàng nông, thủy sản.

Xuất khẩu gạo từng là thành tựu được nhắc đến nhiều trong công cuộc đổi mới, song mấy năm gần đây, nhất là năm 2019, gặp nhiều trục trặc. Gạo giảm do các thị trường lớn như Trung Quốc, Indonesia và Bangladesh đều giảm mua gạo của Việt Nam. Trong khi đó, theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), nguồn cung lúa, gạo thế giới sẽ tăng do các nước nông nghiệp lớn đều tăng sản lượng.

Hồ tiêu thì vẫn “chìm lỉm” do giá tụt dốc từ 10 đô la/ki lô gam năm 2015, đến năm 2019 chỉ còn chưa tới 2 đô la/ki lô gam, vì lượng cung hồ tiêu toàn cầu mỗi năm tăng 8-10% trong khi nhu cầu của thế giới chỉ tăng 2-3%/năm.

Số tăng ít ỏi, nhưng cũng nan giải

Có 2 trong 9 mặt hàng trong nhóm nông, thủy sản xuất khẩu tăng, nhưng cũng chẳng vội mừng. Nằm trong nhóm 5 quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè (trà), song bao năm ròng xuất khẩu chè vẫn ì ạch xung quanh 200 triệu đô la, nên năm 2019 dù xuất khẩu có tăng 8,8% so với năm 2018, nhưng số tuyệt đối tăng thêm cũng chỉ là 19 triệu đô la, chẳng bõ bèn.

Cao su là mặt hàng thứ 2 tăng cũng lớn (10%), song tồn tại không nhỏ: (1) Diện tích cao su tiểu điền chiếm tới 53,2% tổng diện tích với hơn 265.000 hộ gia đình tham gia trồng. Do thiếu liên kết, kỹ thuật, quy trình chăm sóc khó kiểm soát ở tất cả các khâu, chất lượng không ổn định, giá thường thấp hơn từ 1-1,5 triệu đồng/tấn so với giá cao su đại điền; (2) Tỷ trọng cao su già cỗi ở vùng trồng truyền thống đang ở mức cao, năng suất, chất lượng sản phẩm sụt giảm; (3) 80% cao su thiên nhiên được xuất khẩu dưới dạng chế biến thô.

Eo hẹp thị trường

Xuất khẩu nông, thủy sản lâu nay phụ thuộc vào Trung Quốc. Rau quả xuất sang Trung Quốc chiếm 73% tổng kim ngạch, cao su chiếm 65%. Sắn và sản phẩm từ sắn (khoai mì) trong nhiều năm qua Trung Quốc vẫn là điểm đến hàng đầu. Với hạt điều thì Trung Quốc đứng thứ 2 trong nhóm 7 thị trường trọng điểm. Trung Quốc luôn là khách hàng số 1 trong 9 nhóm thị trường mua gạo Việt Nam. Trung Quốc đứng đầu nhóm 8 thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam.

Đúng ra, nếu có khách hàng láng giềng mua ổn định, khối lượng lớn nông, thủy sản của mình, thì phải vui. Song chơi với khách hàng “tính khí” thất thường với rủi ro thường trực này, cũng đồng thời là lợi bất cập hại.

Không dễ tận dụng cơ hội mới

Các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã loại bỏ thuế quan cho hàng nông, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, song điều đó không đồng nghĩa hàng của ta dễ dàng bước ngay vào thị trường đối tác. Các rào cản kỹ thuật xuất hiện, khiến việc xuất khẩu vào các thị trường này trở thành khó khăn không dễ gì khắc phục một sớm một chiều. Trong khi ấy, nông phẩm của các đối tác lại tận dụng cơ hội này, tranh thủ tràn vào, nông phẩm của ta sẽ vất vả giành giữ thị phần ngay trên sân nhà.

Dù nông nghiệp đã có tiến bộ song chừng ấy chưa khỏa lấp được những khiếm khuyết của một nền sản xuất phân tán, chạy theo tâm lý đám đông, sẵn sàng phá vỡ quy hoạch, thi nhau trồng rồi ồ ạt chặt phá không ngoại trừ một loại cây nào, tùy tiện sử dụng các chất bảo vệ thực vật, công nghệ chế biến luôn đi sau thiên hạ…

Đó là những nguyên nhân khiến xuất khẩu nông, thủy sản trở thành “điểm mờ” trong bức tranh xuất khẩu chung năm 2019, bên cạnh nguyên nhân giá các mặt hàng này trên thị trường thế giới giảm. Trong tình trạng đó thì rất khó để ngành này bước vào năm 2020 với tâm thế lạc quan.

(*) Nhóm nông, thủy sản là nhóm đầu tiên trong danh mục hàng hóa chủ lực XK, nó không bao gồm kim ngạch XK của gỗ và sản phẩm từ gỗ thường được cộng vào để tính là hàng nông nghiệp xuất khẩu.

Nguồn: Số liệu trong bài: Biểu Tình hình XK hàng hóa theo nhóm hàng quý 1. 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng 2019 của Cục Xuất nhập khẩu Bộ Công Thương.

[:]

Write a Reply or Comment

Gọi ngay
facebook zalo
(+84)909054866